Đưa Thủ đô ‘đi trước, mở đường’ về khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo

16/03/2026
Đưa Thủ đô ‘đi trước, mở đường’ về khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo
Trả lời phỏng vấn Báo Pháp luật Việt Nam, TS. Trần Văn Khải - Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường (KH,CN&MT) của Quốc hội đánh giá cao việc dự thảo Luật Thủ đô (sửa đổi) đã dành riêng một chương về phát triển KHCN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số (ĐMST&CĐS) là lựa chọn “đúng thời điểm, đúng trọng tâm”.
Chính phủ vừa có Tờ trình gửi Quốc hội (QH) về dự án Luật Thủ đô (sửa đổi). Ông nhận định thế nào về việc dự thảo Luật đã dành 1 chương quy định về phát triển KHCN,ĐMST&CĐS?

- Tôi đánh giá việc dự thảo Luật Thủ đô (sửa đổi) dành riêng một chương về phát triển KHCN,ĐMST&CĐS (Chương V) là lựa chọn “đúng thời điểm, đúng trọng tâm”. Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng coi KHCN,ĐMST&CĐS là động lực chính của mô hình tăng trưởng mới; vì vậy, muốn Thủ đô thật sự “đi trước - mở đường” thì Luật Thủ đô phải đặt nội dung này thành trụ cột thể chế, chứ không dừng ở các quy định nguyên tắc hoặc khẩu hiệu khuyến khích chung.

Qua nghiên cứu dự thảo Luật, tôi thấy rằng điểm mạnh của Chương này là đưa tư duy “giải bài toán lớn của đô thị” vào Luật. Dự thảo yêu cầu tích hợp KHCN&CĐS trong hoạch định chính sách, quản lý nhà nước và phát triển các ngành, lĩnh vực; ưu tiên giải những vấn đề gắn trực tiếp chất lượng sống và năng lực cạnh tranh của TP, kể cả các bài toán đòi hỏi dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo. Đây là bước chuyển quan trọng từ “đầu tư theo đề tài” sang “đặt hàng theo vấn đề”, qua đó kéo các chủ thể của hệ sinh thái viện - trường - doanh nghiệp - cơ quan quản lý cùng tham gia và cùng chịu trách nhiệm về kết quả đầu ra. Tinh thần này cũng phù hợp với định hướng phát triển Thủ đô đến 2030, tầm nhìn 2045, trong đó nhấn mạnh vai trò trung tâm tri thức và động lực vùng của Hà Nội.

Điểm đột phá tiếp theo là cơ chế “dám thử trong khuôn khổ”, ưu tiên thí điểm cơ chế, chính sách và thử nghiệm có kiểm soát; chấp nhận rủi ro và miễn trừ trách nhiệm đối với rủi ro trong hoạt động KHCN,ĐMST&CĐS. Về bản chất, đây là cơ chế học bằng thực tiễn, tức thử trong phạm vi hẹp, có giám sát, có bảo vệ người tham gia, rồi tổng kết để hoàn thiện thể chế. Kinh nghiệm quốc tế về sandbox cũng nhấn mạnh đây là công cụ “thử có kiểm soát, có thời hạn, có rào chắn an toàn”, giúp Nhà nước và thị trường cùng học để xây dựng quy định phù hợp.

Về công cụ thực thi, dự thảo Luật đã chạm đúng “điểm nghẽn” thường gặp, đó là tài chính, mua sắm và dữ liệu. Các quy định về ngân sách linh hoạt theo đầu ra; cơ chế khoán chi; thủ tục mua sắm rút gọn cho nhiệm vụ KHCN; cơ chế hình thành quỹ đầu tư mạo hiểm có sử dụng ngân sách; cơ chế khuyến khích doanh nghiệp tăng chi R&D (kể cả khấu trừ chi phí ở mức cao)… tạo thành “gói chính sách” tương đối đồng bộ để tăng tốc thương mại hóa và mở rộng thị trường cho đổi mới. Đồng thời, việc trao thẩm quyền ban hành kiến trúc số, nền tảng số dùng chung; quy định danh mục dữ liệu mở, chia sẻ dữ liệu công - tư; và yêu cầu kết nối, khai thác cơ sở dữ liệu quốc gia cho quản trị đô thị cho thấy dự thảo nhìn đúng vai trò của dữ liệu như một “tài nguyên mới”.

Thông điệp tôi muốn nhấn mạnh ở đây là dành chương riêng mới là điều kiện cần. Điều kiện đủ là phân quyền phải đi cùng chuẩn dữ liệu, liên thông hệ thống, đồng thời coi bảo vệ dữ liệu cá nhân, an ninh mạng như điều kiện tiên quyết để tạo niềm tin xã hội, phù hợp các khuôn khổ quản trị dữ liệu và đô thị thông minh lấy con người làm trung tâm của Chương trình Định cư con người Liên hợp quốc (UN-Habitat).

Dự thảo Luật Thủ đô (sửa đổi) hiện có nội dung chính sách nhằm đổi mới phương thức quản trị Thủ đô hiện đại dựa trên công nghệ số, dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo (AI). Theo ông, việc này có ý nghĩa như thế nào trong việc thúc đẩy CĐS và xây dựng chính quyền số, đô thị thông minh của Thủ đô cũng như việc giải quyết các “điểm nghẽn” lớn của Thủ đô?

- Theo tôi, ý nghĩa lớn nhất của việc dự thảo Luật đặt trọng tâm đổi mới quản trị dựa trên công nghệ số, dữ liệu lớn và AI là chuyển “quản lý theo sự vụ” sang “điều hành theo dữ liệu và dự báo”.

Dự thảo Luật đã đặt nền cho chính quyền số bằng chuỗi cấu phần tương đối “đúng bài”. Đó là yêu cầu xây dựng nền hành chính số và công vụ số; thẩm quyền ban hành kiến trúc số đặc thù, nền tảng số dùng chung; cơ chế quản trị dựa trên dữ liệu số, trong đó có trách nhiệm chia sẻ dữ liệu, dữ liệu mở và chia sẻ dữ liệu công - tư theo hợp đồng; và quy định về quản lý rủi ro, an toàn khi ứng dụng AI trong quản lý nhà nước. Cách tiếp cận này đồng điệu với khuyến nghị của World Bank và OECD về chuyển đổi khu vực công theo hướng “data-driven”, coi dữ liệu là đầu vào trọng yếu để tối ưu quyết định, nâng chất lượng dịch vụ công và tăng hiệu quả chi tiêu công.

Về ùn tắc, kinh nghiệm quốc tế về giao thông thông minh (ITS) cho thấy hệ thống ITS và quản trị dựa trên dữ liệu có thể cải thiện dòng xe, giảm chi phí xã hội của ùn tắc khi kết hợp với vận tải công cộng khối lượng lớn. Trường hợp Seoul thường được trích dẫn như một ví dụ về chuyển trọng tâm từ “mở rộng hạ tầng” sang “tối ưu vận hành bằng công nghệ”.

Về ô nhiễm môi trường, đặc biệt là không khí, dữ liệu và AI sẽ giúp chuyển từ “đo - báo” sang “dự báo - can thiệp”, mô hình hóa ô nhiễm, cảnh báo sớm, khoanh vùng nguồn phát thải; thiết kế vùng phát thải thấp và lộ trình kiểm soát phương tiện; quan trắc liên vùng và chia sẻ dữ liệu môi trường trong Vùng Thủ đô. Các nghiên cứu về chất lượng không khí Hà Nội chỉ ra thiệt hại sức khỏe - kinh tế do PM2.5 là rất đáng kể và chính sách dựa trên bằng chứng (monitoring + kiểm kê phát thải + can thiệp theo nguồn) chính là chìa khóa để giảm thiệt hại.

Về trật tự xây dựng - đất đai - an toàn thực phẩm, quản trị số giúp phát hiện sớm vi phạm, giảm không gian “xin - cho” qua quy trình minh bạch và tăng hiệu lực hậu kiểm dựa trên dữ liệu. Dự thảo Luật cũng thiết kế các công cụ quản lý mạnh, như cơ chế xử lý vi phạm trật tự đô thị, an toàn cộng đồng, quản lý an toàn thực phẩm theo hướng tập trung, thống nhất để chính quyền TP có đủ “công cụ pháp lý” khi đưa quản trị số vào thực tiễn.

Điều tôi muốn nhấn mạnh ở nội dung này là CĐS của Thủ đô không phải chỉ “mua thêm phần mềm”, mà là tái thiết kế quy trình dựa trên dữ liệu, đặt người dân làm trung tâm và gắn chặt với trách nhiệm giải trình để công nghệ thực sự tháo gỡ “điểm nghẽn”.
Ảnh minh họa, nguồn: Chinhphu.vn

Ông đánh giá các nội dung quy định tại dự thảo Luật đã đủ mạnh để hướng tới mục tiêu đưa Thủ đô Hà Nội trở thành một trung tâm lớn về KHCN,ĐMST chưa, thưa ông?

- Tôi cho rằng các quy định về phát triển KHCN,ĐMST&CĐS trong dự thảo Luật đã “mạnh hơn một bước” so với cách tiếp cận truyền thống, vì đặt trọng tâm vào thử nghiệm có kiểm soát, chấp nhận rủi ro và ưu đãi - hỗ trợ gắn với kết quả. Dự thảo Luật khẳng định nguyên tắc tích hợp KHCN&CĐS vào quản lý nhà nước; ưu tiên giải bài toán lớn; đồng thời thừa nhận một chân lý của đổi mới sáng tạo là muốn có đột phá thì phải có cơ chế chấp nhận rủi ro trong phạm vi kiểm soát.

Về cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox), dự thảo Luật đã trao thẩm quyền cho HĐND TP quy định tiêu chí, điều kiện, trình tự cho phép/điều chỉnh/chấm dứt thử nghiệm; cơ chế hướng dẫn, kiểm soát; cơ chế bảo vệ người tham gia; chính sách tài trợ và khai thác dữ liệu, hạ tầng, tài sản công phục vụ thử nghiệm; và thậm chí quyết định miễn áp dụng các quy định pháp luật đối với dự án thử nghiệm cụ thể theo đề nghị của UBND. So với thông lệ quốc tế, đây là cấu trúc tương đối đầy đủ.

Về ưu đãi và nguồn lực, dự thảo Luật đưa ra một bộ đòn bẩy đáng chú ý là thành lập quỹ đầu tư mạo hiểm có sử dụng ngân sách theo nguyên tắc thị trường, chấp nhận rủi ro; cơ chế khoán chi; thủ tục chỉ định thầu rút gọn cho nhiệm vụ khoa học - công nghệ; ưu đãi thuế thu nhập cá nhân đối với cá nhân thực hiện và tư vấn nhiệm vụ; cơ chế khấu trừ chi R&D ở mức cao; hỗ trợ chuyển giao công nghệ, sở hữu trí tuệ; và phát triển khu công nghệ cao, trong đó Hòa Lạc được xác định là hạt nhân đổi mới sáng tạo trọng điểm. Nếu triển khai nhất quán, bộ công cụ này có tiềm năng gỡ “3 nút thắt” để trở thành trung tâm ĐMST gồm vốn mồi và vốn mạo hiểm; cơ chế thị trường thử nghiệm (sandbox + mua sắm công); hạ tầng không gian đổi mới (khu công nghệ cao, nền tảng dữ liệu).

Tuy nhiên, để trả lời thẳng câu hỏi “đã đủ mạnh chưa”, tôi cho rằng dự thảo Luật mạnh về hướng, nhưng còn phụ thuộc vào 3 điều kiện thực thi để “đủ mạnh để về đích”. Thứ nhất, sandbox phải có giới hạn thời gian, ngưỡng rủi ro, cơ chế bồi thường khi phát sinh thiệt hại và đánh giá độc lập, để phân biệt đổi mới thật với thử nghiệm tuỳ tiện. Thứ hai, “miễn trừ trách nhiệm” phải gắn điều kiện quy trình, công khai và không vụ lợi; đồng thời đi cùng cơ chế phòng, chống trục lợi, tham nhũng và kiểm toán, như chính dự thảo đã đặt ra yêu cầu xử lý nghiêm sai phạm và chỉ miễn trách nhiệm khi tuân thủ đầy đủ quy trình, không vụ lợi. Thứ ba, dữ liệu càng mở và càng chia sẻ thì càng phải coi bảo vệ dữ liệu cá nhân, an ninh mạng là nền tảng của niềm tin, phù hợp khung pháp lý hiện hành về dữ liệu cá nhân và an ninh mạng.

Trân trọng cảm ơn ông!
Tuệ Minh (thực hiện)