Nâng cao hiệu quả công tác truyền thông chính sách trong quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luậtTrong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) không chỉ là hoạt động kỹ thuật lập pháp, mà còn là quá trình thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng, cụ thể hóa chính sách của Nhà nước thành các quy định pháp luật có tính khả thi. Để bảo đảm các văn bản được ban hành thực sự xuất phát từ yêu cầu của đời sống xã hội, phản ánh đúng ý chí, nguyện vọng của nhân dân và đáp ứng mục tiêu quản lý, truyền thông chính sách trở thành một khâu quan trọng, có ý nghĩa quyết định đến chất lượng của quá trình xây dựng và thực thi pháp luật.Thực tiễn thời gian qua cho thấy, bên cạnh những nỗ lực đổi mới công tác xây dựng pháp luật, truyền thông chính sách vẫn là khâu còn hạn chế, chưa được nhận thức và đầu tư tương xứng. Việc thông tin, tham vấn, phản hồi giữa cơ quan nhà nước với người dân, doanh nghiệp còn thiếu tính chủ động, đồng bộ và chiều sâu; nhiều chính sách khi ban hành chưa được xã hội hiểu rõ, dẫn đến khó khăn trong quá trình thực thi hoặc phải sửa đổi, bổ sung sớm. Điều đó đặt ra yêu cầu cấp thiết phải nâng cao hiệu quả công tác truyền thông chính sách, coi đây là một cấu phần không thể thiếu trong quy trình lập pháp, lập quy.
Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia, sự phát triển mạnh mẽ của truyền thông đa phương tiện và nhu cầu tham gia của người dân vào quá trình hoạch định chính sách ngày càng cao, việc nâng cao hiệu quả công tác truyền thông chính sách trong quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật có vai trò và ý nghĩa hết sức quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, hướng tới mục tiêu “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân thụ hưởng” theo tinh thần của Đảng và Hiến pháp.
1. Khái niệm “chính sách” và “truyền thông chính sách”
Chính sách là một khái niệm được sử dụng rộng rãi trong khoa học chính trị, quản lý nhà nước và pháp luật. Tùy theo góc độ tiếp cận, có thể hiểu chính sách theo nhiều cách khác nhau. Trong lĩnh vực xây dựng pháp luật, chính sách là “tập hợp các giải pháp cụ thể của Nhà nước để giải quyết một hoặc một số vấn đề của thực tiễn nhằm đạt được mục tiêu nhất định, phù hợp với chủ trương, đường lối của Đảng” . Như vậy, chính sách là sự thể hiện ý chí, quan điểm và mục tiêu quản lý của Nhà nước đối với lĩnh vực cụ thể, làm cơ sở cho việc ban hành và thực thi pháp luật.
Truyền thông chính sách là quá trình cơ quan nhà nước và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan tổ chức cung cấp, trao đổi, định hướng thông tin về chính sách (từ khâu đề xuất, soạn thảo, lấy ý kiến, ban hành đến thực thi) nhằm tạo sự đồng thuận xã hội, nâng cao nhận thức, huy động sự tham gia và giám sát của người dân, bảo đảm chính sách được xây dựng và thực hiện hiệu quả. Nói cách khác, truyền thông chính sách là hoạt động thông tin, tương tác hai chiều giữa Nhà nước và xã hội về các vấn đề chính sách, giúp chính sách “đi vào cuộc sống” một cách thuận lợi và bền vững. Như vậy, đây là những nỗ lực chủ động để giúp các bên liên quan hiểu biết một cách đầy đủ, kịp thời, từ đó tham gia vào quá trình chính sách một cách chủ động, tự nguyện; đồng thiết kế, cải thiện chất lượng chính sách và thực thi chính sách một cách hiệu quả. Truyền thông chính sách là một cách tiếp cận mới trong quá trình vận động, tuyên truyền của Đảng và Nhà nước nói chung và cả trong quá trình xây dựng chính sách - một quá trình mà trong quan niệm truyền thống là thuộc về nội bộ hoặc thậm chí là “đặc quyền Nhà nước”.
2. Vai trò của truyền thông chính sách trong công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật
Truyền thông chính sách là nhiệm vụ quan trọng trong quá trình xây dựng và ban hành chính sách, nhằm đáp ứng yêu cầu xây dựng hệ thống pháp luật đầy đủ, kịp thời, đồng bộ, thống nhất, khả thi, công khai, minh bạch, ổn định, góp phần nâng cao chất lượng chính sách và chất lượng VBQPPL. Thông qua truyền thông chính sách, các cơ quan nhà nước không chỉ cung cấp thông tin, định hướng dư luận xã hội, mà còn tiếp nhận phản hồi, ý kiến đóng góp của nhân dân và tổ chức xã hội, từ đó hoàn thiện nội dung chính sách, tăng tính khả thi và tính thực tiễn của pháp luật, đồng thời thúc đẩy sự tham gia chủ động của người dân trong quá trình xây dựng và thực thi pháp luật.
Đối với các cơ quan công quyền, truyền thông chính sách là quá trình thiết lập các chiến lược và hoạt động truyền thông; nuôi dưỡng và phát triển mối quan hệ tích cực theo nguyên tắc “đôi bên cùng có lợi”, nhằm giảm thiểu sự hiểu lầm và hành động thiếu tính xây dựng; tạo dựng hình ảnh và uy tín về cơ quan, cá nhân lãnh đạo, sự thông hiểu, đồng cảm, ủng hộ và hợp tác lâu dài với các cơ quan công quyền, là một hợp phần của chiến lược xây dựng “thương hiệu”. Đây là một kênh quan trọng để đội ngũ lãnh đạo “kể chuyện”, “truyền cảm hứng” và thúc đẩy quá trình thay đổi trong quá trình ban hành chính sách pháp luật.
Hoạt động truyền thông chính sách có thể thực hiện bằng nhiều biện pháp và hình thức đa dạng phù hợp với từng giai đoạn và đối tượng truyền thông. Cơ quan chủ trì soạn thảo có thể tổ chức họp báo, tọa đàm, đăng tải dự thảo trên cổng thông tin điện tử, lấy ý kiến nhân dân qua mạng xã hội, hoặc phối hợp với cơ quan báo chí để lan tỏa thông tin chính sách một cách rộng rãi, dễ hiểu. Việc kết hợp linh hoạt giữa truyền thông truyền thống và truyền thông số giúp nâng cao hiệu quả tương tác, bảo đảm tính công khai, minh bạch và thu hút sự tham gia tích cực của người dân, doanh nghiệp trong quá trình hoàn thiện chính sách.
Nội hàm truyền thông chính sách gồm hai mảng: (1) Giao tiếp: xây dựng và chia sẻ thông điệp dạng ngôn từ (dạng nói và dạng văn bản) và hình ảnh; (2) Hành động: tổ chức thực hiện, làm gương, làm mẫu để đưa các chính sách, các giải pháp chính sách thành hành động thực tiễn (ví dụ tổ chức xây dựng hệ thống vị trí việc làm kèm theo các bản mô tả công việc để thực hiện chính sách cải cách chế độ quản lý công vụ, từng bước kết hợp giữa chế độ chức nghiệp với chế độ vị trí việc làm).
Chủ thể truyền thông chính sách bao gồm: (1) Các chủ thể chính sách như cơ quan nhà nước, đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp (một số cơ quan nhà nước hình thành các đơn vị chuyên trách, như: Vụ Truyền thông và Thi đua khen thưởng của Bộ Y tế, Vụ Truyền thông của Ngân hàng Nhà nước); (2) Báo chí, các cơ quan thông tấn; (3) Mạng xã hội và các nhân vật nổi tiếng (ví dụ dùng hình ảnh và tiếng nói của người nổi tiếng để truyền thông về chính sách cắt giảm đồ dùng bằng nhựa,…).
Thời điểm truyền thông chính sách: truyền thông cần được thực hiện trong tất cả các khâu của quá trình chính sách từ nhận diện vấn đề, hoạch định chính sách (chẩn đoán được nguyên nhân bản chất sâu xa; thiết kế giải pháp, thử các giải pháp - thí điểm và đánh giá, phân biệt được hệ quả khi áp dụng chính sách và hệ lụy (tiêu cực) nếu không có phản ứng chính sách đó, điều chỉnh và hoàn thiện chính sách) đến tổ chức thực thi và đánh giá chính sách.
Có 3 cấp độ truyền thông chính sách, bao gồm: cung cấp thông tin website trên cổng thông tin điện tử của cơ quan chủ trì soạn thảo và Cổng pháp luật quốc gia ; hợp tác với các cơ quan truyền thông, thông tấn báo chí để truyền tải thông điệp; có chiến lược truyền thông bài bản, toàn diện (phát huy nhiều kênh, nhiều hình thức như họp báo, cung cấp thông tin cho báo chí, công báo, từ “lời nói đến việc làm” …).
Mục tiêu của truyền thông chính sách là: (1) Phát huy quyền, vai trò và trí tuệ của xã hội trong nhận diện các vấn đề chính sách và cân nhắc các giải pháp chính sách; (2) Định hướng dư luận: một chủ trương, chính sách chỉ hiệu quả khi được xã hội chấp thuận và khả thi trên thực tiễn để tạo ra các kết quả như trông đợi; (3) Tự rà soát và đổi mới: cung cấp thông tin để các chủ thể chính sách rà soát các phương pháp, công cụ, cách tiếp cận và cách hành xử của mình đối với các vấn đề xã hội; nhờ đó, hỗ trợ quá trình cải cách thủ tục hành chính, đổi mới bộ máy, nâng cao chất lượng đội ngũ. Đặc biệt, để giám sát thực hiện, phát hiện vấn đề, bất cập, lợi dụng thẩm quyền; (4) Đưa Nhà nước, Chính phủ hay chính quyền nói chung đến gần công chúng hơn, tạo dựng và duy trì sự tin cậy của xã hội đối với Nhà nước nói chung hay các chủ thể chính sách nói riêng.
Các yêu cầu đối với truyền thông chính sách: (1) Khách quan, khoa học; (2) có tính hệ thống; (3) mang tính hai chiều; (4) kịp thời và cẩn trọng; (5) phát huy vai trò của các bên liên quan; (6) phát huy sức mạnh của nền tảng số.
Là cơ quan thuộc Chính phủ, thực hiện chức năng, nhiệm vụ giúp Chính phủ trong công tác xây dựng pháp luật, thi hành pháp luật, phổ biến, giáo dục pháp luật, Bộ Tư pháp đã tham mưu Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Tổ chức truyền thông chính sách có tác động lớn đến xã hội trong quá trình xây dựng VBQPPL giai đoạn 2022 – 2027” (Đề án 407); Quyết định số 153/QĐ-BTP ngày 02/02/2024 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Kế hoạch của Bộ Tư pháp thực hiện các văn bản, Đề án về phổ biến, giáo dục pháp luật, tiếp cận pháp luật năm 2024.
Thêm vào đó, Bộ Tư pháp với vai trò là Cơ quan Thường trực Hội đồng PBGDPL Trung ương, đã tham mưu thực hiện hiệu quả công tác truyền thông dự thảo chính sách trong quá trình xây dựng văn bản QPPL và đạt được những kết quả khả quan. Hoạt động truyền thông dự thảo chính sách đã được cấp, các ngành quan tâm chỉ đạo tổ chức triển khai thực hiện, tạo lập được cơ chế thống nhất trong tổ chức truyền thông dự thảo chính sách, tạo điều kiện cho người dân, doanh nghiệp tham gia góp ý, phản biện trong quá trình xây dựng chính sách pháp luật. Nhận thức của các cấp ủy đảng, chính quyền về công tác này đã có sự chuyển biến tích cực, nhất là trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo điều hành; gắn kết việc triển khai thực hiện hoạt động truyền thông dự thảo chính sách với xây dựng, hoàn thiện VBQPPL và việc thực hiện nhiệm vụ chính trị quan trọng của cơ quan, ban, ngành, đoàn thể trung ương và địa phương. Hội đồng phối hợp PBGDPL các cấp đã phát huy được vai trò trong định hướng, chỉ đạo công tác truyền thông dự thảo chính sách. Các cơ quan chủ trì soạn thảo VBQPPL đã nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của công tác truyền thông dự thảo chính sách và chủ động trong cung cấp thông tin phục vụ hoạt động truyền thông cũng như tổ chức hội thảo, diễn đàn, đối thoại về dự thảo chính sách pháp luật. Nhiều hoạt động truyền thông dự thảo chính sách đã được tổ chức với hình thức phong phú, đa dạng; đã huy động được sự tham gia, vào cuộc của các cơ quan báo chí, truyền thông, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội và luật sư, luật gia, nhà khoa học tham gia góp ý, phản biện dự thảo chính sách. Chính vì vậy, các dự thảo chính sách, dự thảo VBQPPL đã dần đến được đối tượng tác động nói riêng, người dân và doanh nghiệp nói chung, góp phần vào việc công khai, minh bạch chính sách, pháp luật.
Tuy nhiên, việc thực hiện truyền thông dự thảo chính sách trong thời gian qua còn chưa thường xuyên, chưa đạt được hiệu quả như mong muốn. Một số cơ quan chủ trì soạn thảo VBQPPL chưa chủ động ban hành Kế hoạch truyền thông và tổ chức thực hiện. Việc biên soạn tài liệu truyền thông dự thảo chính sách chưa được nhiều cơ quan chủ trì soạn thảo VBQPPL quan tâm thực hiện và cung cấp thông tin cho báo chí để phục vụ truyền thông. Một số cơ quan chủ trì soạn thảo còn lúng túng trong việc xác định nội dung chính sách có tác động lớn đến xã hội cần truyền thông, hình thức, phương pháp truyền thông. Việc truyền thông dự thảo chính sách chủ yếu được thực hiện thông qua hình thức tổ chức hội thảo, tọa đàm, hội nghị lấy ý kiến, chưa chú trọng ứng dụng các công cụ, hình thức truyền thông hiện đại. Việc giải trình ý kiến ở một số dự thảo VBQPPL còn mang tính hình thức, chưa công khai việc tiếp thu, giải trình ý kiến góp ý nhận được từ hoạt động truyền thông nhiều dự thảo chính sách, nhất là góp ý trái chiều chưa được các cơ quan chủ trì soạn thảo VBQPPL quan tâm, thực hiện. Sự phối hợp, trao đổi, cung cấp thông tin giữa cơ quan chủ trì soạn thảo VBQPPL với các cơ quan thông tin, báo chí có lúc chưa chặt chẽ, do đó, các cơ quan báo chí còn gặp khó khăn trong việc nắm bắt thông tin về dự thảo chính sách. Kinh phí cho truyền thông dự thảo chính sách chưa được nhiều bộ, ngành, địa phương bố trí hoặc còn rất hạn hẹp, chưa có kinh phí riêng cho công tác này nên các bộ, ngành, địa phương phải tự cân đối, bố trí từ kinh phí chi cho hoạt động thường xuyên hoặc hoạt động PBGDPL của cơ quan, đơn vị. Việc huy động các nguồn lực xã hội để tham gia tổ chức các hoạt động truyền thông dự thảo chính sách còn hạn chế, chưa thường xuyên.
3. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác truyền thông chính sách trong xây dựng VBQPPL
Để tiếp tục phát huy những kết quả đạt được, khắc phục các hạn chế, tồn tại, cần thực hiện một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác truyền thông chính sách trong quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật.
Một là, hoàn thiện chính sách, thể chế về công tác truyền thông dự thảo chính sách, trong đó quy định rõ nhiệm vụ truyền thông dự thảo chính sách và trách nhiệm của các bộ, cơ quan, tổ chức ở trung ương, địa phương trong công tác này. Nghiên cứu, xây dựng, hướng dẫn quy trình truyền thông dự thảo chính sách để thống nhất triển khai trên cả nước.
Hai là, tiếp tục quán triệt, truyền thông, nâng cao nhận thức và trách nhiệm của cơ quan chủ trì soạn thảo VBQPPL về vị trí, tầm quan trọng của công tác truyền thông dự thảo chính sách pháp luật. Phát huy vai trò của Hội đồng phối hợp PBGDPL các cấp và từng thành viên Hội đồng trong chỉ đạo, hướng dẫn và tổ chức truyền thông dự thảo chính sách pháp luật liên quan đến ngành, lĩnh vực mình.
Ba là, xây dựng cơ chế phối hợp, cung cấp thông tin giữa các cơ quan chủ trì soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật với các cơ quan thông tin, báo chí trong tổ chức truyền thông dự thảo chính sách để bảo đảm chất lượng, hiệu quả. Tăng cường sự tham gia của các cơ quan thông tin, báo chí như Đài Truyền hình, Đài tiếng nói, Thông tấn xã Việt Nam, các Báo ở Trung ương và địa phương trong công tác truyền thông dự thảo chính sách.
Bốn là, đa dạng hóa các hình thức truyền thông dự thảo chính sách phù hợp, hiệu quả, chú trọng xây dựng tài liệu truyền thông ngắn gọn, sinh động, dễ hiểu; tổ chức truyền thông trên phương tiện thông tin, báo chí và mạng xã hội; thông qua các cuộc tiếp xúc cử tri, họp báo hàng tháng, hàng quý của các cơ quan, đơn vị và thông qua các thiết chế văn hóa tại cơ sở... để nắm bắt tâm tư, nguyện vọng, ý kiến góp ý, phản hồi của người dân, doanh nghiệp về quá trình xây dựng, thực thi chính sách pháp luật. Trong quá trình truyền thông cần cung cấp địa chỉ, đầu mối cung cấp nội dung truyền thông và đầu mối phối hợp, tiếp nhận ý kiến góp ý, phản hồi về dự thảo chính sách, dự thảo VBQPPL.
Năm là, chú trọng nâng cao năng lực, chất lượng đội ngũ cán bộ thực hiện công tác dự thảo chính sách và truyền thông chính sách tại các bộ, ngành, địa phương. Cần tổ chức mở rộng bồi dưỡng, tập huấn các kỹ năng cơ bản trong truyền thông dự thảo chính sách cho đội ngũ báo cáo viên pháp luật, công chức pháp chế các bộ, cơ quan, tổ chức ở trung ương, sở, ngành địa phương, tuyên truyền viên pháp luật; đội ngũ phóng viên, biên tập viên, cán bộ quản lý thông tin, báo chí ở trung ương, địa phương.
Sáu là, quan tâm bố trí nguồn lực thực hiện truyền thông dự thảo chính sách, trong đó cần bố trí nguồn kinh phí riêng đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ này. Bên cạnh đó, có giải pháp huy động đội ngũ luật sư, luật gia, nhà khoa học, chuyên gia pháp lý tham gia công tác truyền thông dự thảo chính sách, đồng thời, khuyến khích các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân hỗ trợ nguồn lực để tổ chức các hoạt động truyền thông dự thảo chính sách theo quy định của pháp luật.
Công tác truyền thông chính sách trong quá trình xây dựng VBQPPL có vai trò rất quan trọng, là một trong những chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan của Chính phủ và chính quyền địa phương trong quá trình thực hiện nhiệm vụ chính trị của mình. Công tác này góp phần nâng cao hiệu quả lãnh đạo, quản lý, điều hành, đồng thời bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong xây dựng, ban hành chính sách và pháp luật, giúp các văn bản pháp luật thực sự phản ánh ý chí của nhân dân, xuất phát từ nhu cầu thực tiễn, mang hơi thở cuộc sống, trở thành công cụ hữu hiệu để thực hiện phương châm: “Đảng lãnh đạo, Nhân dân làm chủ, Nhà nước quản lý”, hướng tới một Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của dân, do dân và vì dân. Để đạt được mục tiêu này, Bộ Tư pháp cùng các Bộ, ngành và địa phương cần phối hợp chặt chẽ, đồng bộ, triển khai hiệu quả các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác truyền thông chính sách trong xây dựng pháp luật, đảm bảo tính khả thi, minh bạch và hiệu quả của chính sách và pháp luật.
Nâng cao hiệu quả công tác truyền thông chính sách trong quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật
05/02/2026
Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) không chỉ là hoạt động kỹ thuật lập pháp, mà còn là quá trình thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng, cụ thể hóa chính sách của Nhà nước thành các quy định pháp luật có tính khả thi. Để bảo đảm các văn bản được ban hành thực sự xuất phát từ yêu cầu của đời sống xã hội, phản ánh đúng ý chí, nguyện vọng của nhân dân và đáp ứng mục tiêu quản lý, truyền thông chính sách trở thành một khâu quan trọng, có ý nghĩa quyết định đến chất lượng của quá trình xây dựng và thực thi pháp luật.
Thực tiễn thời gian qua cho thấy, bên cạnh những nỗ lực đổi mới công tác xây dựng pháp luật, truyền thông chính sách vẫn là khâu còn hạn chế, chưa được nhận thức và đầu tư tương xứng. Việc thông tin, tham vấn, phản hồi giữa cơ quan nhà nước với người dân, doanh nghiệp còn thiếu tính chủ động, đồng bộ và chiều sâu; nhiều chính sách khi ban hành chưa được xã hội hiểu rõ, dẫn đến khó khăn trong quá trình thực thi hoặc phải sửa đổi, bổ sung sớm. Điều đó đặt ra yêu cầu cấp thiết phải nâng cao hiệu quả công tác truyền thông chính sách, coi đây là một cấu phần không thể thiếu trong quy trình lập pháp, lập quy.
Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia, sự phát triển mạnh mẽ của truyền thông đa phương tiện và nhu cầu tham gia của người dân vào quá trình hoạch định chính sách ngày càng cao, việc nâng cao hiệu quả công tác truyền thông chính sách trong quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật có vai trò và ý nghĩa hết sức quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, hướng tới mục tiêu “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân thụ hưởng” theo tinh thần của Đảng và Hiến pháp.
1. Khái niệm “chính sách” và “truyền thông chính sách”
Chính sách là một khái niệm được sử dụng rộng rãi trong khoa học chính trị, quản lý nhà nước và pháp luật. Tùy theo góc độ tiếp cận, có thể hiểu chính sách theo nhiều cách khác nhau. Trong lĩnh vực xây dựng pháp luật, chính sách là “tập hợp các giải pháp cụ thể của Nhà nước để giải quyết một hoặc một số vấn đề của thực tiễn nhằm đạt được mục tiêu nhất định, phù hợp với chủ trương, đường lối của Đảng” . Như vậy, chính sách là sự thể hiện ý chí, quan điểm và mục tiêu quản lý của Nhà nước đối với lĩnh vực cụ thể, làm cơ sở cho việc ban hành và thực thi pháp luật.
Truyền thông chính sách là quá trình cơ quan nhà nước và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan tổ chức cung cấp, trao đổi, định hướng thông tin về chính sách (từ khâu đề xuất, soạn thảo, lấy ý kiến, ban hành đến thực thi) nhằm tạo sự đồng thuận xã hội, nâng cao nhận thức, huy động sự tham gia và giám sát của người dân, bảo đảm chính sách được xây dựng và thực hiện hiệu quả. Nói cách khác, truyền thông chính sách là hoạt động thông tin, tương tác hai chiều giữa Nhà nước và xã hội về các vấn đề chính sách, giúp chính sách “đi vào cuộc sống” một cách thuận lợi và bền vững. Như vậy, đây là những nỗ lực chủ động để giúp các bên liên quan hiểu biết một cách đầy đủ, kịp thời, từ đó tham gia vào quá trình chính sách một cách chủ động, tự nguyện; đồng thiết kế, cải thiện chất lượng chính sách và thực thi chính sách một cách hiệu quả. Truyền thông chính sách là một cách tiếp cận mới trong quá trình vận động, tuyên truyền của Đảng và Nhà nước nói chung và cả trong quá trình xây dựng chính sách - một quá trình mà trong quan niệm truyền thống là thuộc về nội bộ hoặc thậm chí là “đặc quyền Nhà nước”.
2. Vai trò của truyền thông chính sách trong công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật
Truyền thông chính sách là nhiệm vụ quan trọng trong quá trình xây dựng và ban hành chính sách, nhằm đáp ứng yêu cầu xây dựng hệ thống pháp luật đầy đủ, kịp thời, đồng bộ, thống nhất, khả thi, công khai, minh bạch, ổn định, góp phần nâng cao chất lượng chính sách và chất lượng VBQPPL. Thông qua truyền thông chính sách, các cơ quan nhà nước không chỉ cung cấp thông tin, định hướng dư luận xã hội, mà còn tiếp nhận phản hồi, ý kiến đóng góp của nhân dân và tổ chức xã hội, từ đó hoàn thiện nội dung chính sách, tăng tính khả thi và tính thực tiễn của pháp luật, đồng thời thúc đẩy sự tham gia chủ động của người dân trong quá trình xây dựng và thực thi pháp luật.
Đối với các cơ quan công quyền, truyền thông chính sách là quá trình thiết lập các chiến lược và hoạt động truyền thông; nuôi dưỡng và phát triển mối quan hệ tích cực theo nguyên tắc “đôi bên cùng có lợi”, nhằm giảm thiểu sự hiểu lầm và hành động thiếu tính xây dựng; tạo dựng hình ảnh và uy tín về cơ quan, cá nhân lãnh đạo, sự thông hiểu, đồng cảm, ủng hộ và hợp tác lâu dài với các cơ quan công quyền, là một hợp phần của chiến lược xây dựng “thương hiệu”. Đây là một kênh quan trọng để đội ngũ lãnh đạo “kể chuyện”, “truyền cảm hứng” và thúc đẩy quá trình thay đổi trong quá trình ban hành chính sách pháp luật.
Hoạt động truyền thông chính sách có thể thực hiện bằng nhiều biện pháp và hình thức đa dạng phù hợp với từng giai đoạn và đối tượng truyền thông. Cơ quan chủ trì soạn thảo có thể tổ chức họp báo, tọa đàm, đăng tải dự thảo trên cổng thông tin điện tử, lấy ý kiến nhân dân qua mạng xã hội, hoặc phối hợp với cơ quan báo chí để lan tỏa thông tin chính sách một cách rộng rãi, dễ hiểu. Việc kết hợp linh hoạt giữa truyền thông truyền thống và truyền thông số giúp nâng cao hiệu quả tương tác, bảo đảm tính công khai, minh bạch và thu hút sự tham gia tích cực của người dân, doanh nghiệp trong quá trình hoàn thiện chính sách.
Nội hàm truyền thông chính sách gồm hai mảng: (1) Giao tiếp: xây dựng và chia sẻ thông điệp dạng ngôn từ (dạng nói và dạng văn bản) và hình ảnh; (2) Hành động: tổ chức thực hiện, làm gương, làm mẫu để đưa các chính sách, các giải pháp chính sách thành hành động thực tiễn (ví dụ tổ chức xây dựng hệ thống vị trí việc làm kèm theo các bản mô tả công việc để thực hiện chính sách cải cách chế độ quản lý công vụ, từng bước kết hợp giữa chế độ chức nghiệp với chế độ vị trí việc làm).
Chủ thể truyền thông chính sách bao gồm: (1) Các chủ thể chính sách như cơ quan nhà nước, đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp (một số cơ quan nhà nước hình thành các đơn vị chuyên trách, như: Vụ Truyền thông và Thi đua khen thưởng của Bộ Y tế, Vụ Truyền thông của Ngân hàng Nhà nước); (2) Báo chí, các cơ quan thông tấn; (3) Mạng xã hội và các nhân vật nổi tiếng (ví dụ dùng hình ảnh và tiếng nói của người nổi tiếng để truyền thông về chính sách cắt giảm đồ dùng bằng nhựa,…).
Thời điểm truyền thông chính sách: truyền thông cần được thực hiện trong tất cả các khâu của quá trình chính sách từ nhận diện vấn đề, hoạch định chính sách (chẩn đoán được nguyên nhân bản chất sâu xa; thiết kế giải pháp, thử các giải pháp - thí điểm và đánh giá, phân biệt được hệ quả khi áp dụng chính sách và hệ lụy (tiêu cực) nếu không có phản ứng chính sách đó, điều chỉnh và hoàn thiện chính sách) đến tổ chức thực thi và đánh giá chính sách.
Có 3 cấp độ truyền thông chính sách, bao gồm: cung cấp thông tin website trên cổng thông tin điện tử của cơ quan chủ trì soạn thảo và Cổng pháp luật quốc gia ; hợp tác với các cơ quan truyền thông, thông tấn báo chí để truyền tải thông điệp; có chiến lược truyền thông bài bản, toàn diện (phát huy nhiều kênh, nhiều hình thức như họp báo, cung cấp thông tin cho báo chí, công báo, từ “lời nói đến việc làm” …).
Mục tiêu của truyền thông chính sách là: (1) Phát huy quyền, vai trò và trí tuệ của xã hội trong nhận diện các vấn đề chính sách và cân nhắc các giải pháp chính sách; (2) Định hướng dư luận: một chủ trương, chính sách chỉ hiệu quả khi được xã hội chấp thuận và khả thi trên thực tiễn để tạo ra các kết quả như trông đợi; (3) Tự rà soát và đổi mới: cung cấp thông tin để các chủ thể chính sách rà soát các phương pháp, công cụ, cách tiếp cận và cách hành xử của mình đối với các vấn đề xã hội; nhờ đó, hỗ trợ quá trình cải cách thủ tục hành chính, đổi mới bộ máy, nâng cao chất lượng đội ngũ. Đặc biệt, để giám sát thực hiện, phát hiện vấn đề, bất cập, lợi dụng thẩm quyền; (4) Đưa Nhà nước, Chính phủ hay chính quyền nói chung đến gần công chúng hơn, tạo dựng và duy trì sự tin cậy của xã hội đối với Nhà nước nói chung hay các chủ thể chính sách nói riêng.
Các yêu cầu đối với truyền thông chính sách: (1) Khách quan, khoa học; (2) có tính hệ thống; (3) mang tính hai chiều; (4) kịp thời và cẩn trọng; (5) phát huy vai trò của các bên liên quan; (6) phát huy sức mạnh của nền tảng số.
Là cơ quan thuộc Chính phủ, thực hiện chức năng, nhiệm vụ giúp Chính phủ trong công tác xây dựng pháp luật, thi hành pháp luật, phổ biến, giáo dục pháp luật, Bộ Tư pháp đã tham mưu Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Tổ chức truyền thông chính sách có tác động lớn đến xã hội trong quá trình xây dựng VBQPPL giai đoạn 2022 – 2027” (Đề án 407); Quyết định số 153/QĐ-BTP ngày 02/02/2024 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Kế hoạch của Bộ Tư pháp thực hiện các văn bản, Đề án về phổ biến, giáo dục pháp luật, tiếp cận pháp luật năm 2024.
Thêm vào đó, Bộ Tư pháp với vai trò là Cơ quan Thường trực Hội đồng PBGDPL Trung ương, đã tham mưu thực hiện hiệu quả công tác truyền thông dự thảo chính sách trong quá trình xây dựng văn bản QPPL và đạt được những kết quả khả quan. Hoạt động truyền thông dự thảo chính sách đã được cấp, các ngành quan tâm chỉ đạo tổ chức triển khai thực hiện, tạo lập được cơ chế thống nhất trong tổ chức truyền thông dự thảo chính sách, tạo điều kiện cho người dân, doanh nghiệp tham gia góp ý, phản biện trong quá trình xây dựng chính sách pháp luật. Nhận thức của các cấp ủy đảng, chính quyền về công tác này đã có sự chuyển biến tích cực, nhất là trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo điều hành; gắn kết việc triển khai thực hiện hoạt động truyền thông dự thảo chính sách với xây dựng, hoàn thiện VBQPPL và việc thực hiện nhiệm vụ chính trị quan trọng của cơ quan, ban, ngành, đoàn thể trung ương và địa phương. Hội đồng phối hợp PBGDPL các cấp đã phát huy được vai trò trong định hướng, chỉ đạo công tác truyền thông dự thảo chính sách. Các cơ quan chủ trì soạn thảo VBQPPL đã nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của công tác truyền thông dự thảo chính sách và chủ động trong cung cấp thông tin phục vụ hoạt động truyền thông cũng như tổ chức hội thảo, diễn đàn, đối thoại về dự thảo chính sách pháp luật. Nhiều hoạt động truyền thông dự thảo chính sách đã được tổ chức với hình thức phong phú, đa dạng; đã huy động được sự tham gia, vào cuộc của các cơ quan báo chí, truyền thông, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội và luật sư, luật gia, nhà khoa học tham gia góp ý, phản biện dự thảo chính sách. Chính vì vậy, các dự thảo chính sách, dự thảo VBQPPL đã dần đến được đối tượng tác động nói riêng, người dân và doanh nghiệp nói chung, góp phần vào việc công khai, minh bạch chính sách, pháp luật.
Tuy nhiên, việc thực hiện truyền thông dự thảo chính sách trong thời gian qua còn chưa thường xuyên, chưa đạt được hiệu quả như mong muốn. Một số cơ quan chủ trì soạn thảo VBQPPL chưa chủ động ban hành Kế hoạch truyền thông và tổ chức thực hiện. Việc biên soạn tài liệu truyền thông dự thảo chính sách chưa được nhiều cơ quan chủ trì soạn thảo VBQPPL quan tâm thực hiện và cung cấp thông tin cho báo chí để phục vụ truyền thông. Một số cơ quan chủ trì soạn thảo còn lúng túng trong việc xác định nội dung chính sách có tác động lớn đến xã hội cần truyền thông, hình thức, phương pháp truyền thông. Việc truyền thông dự thảo chính sách chủ yếu được thực hiện thông qua hình thức tổ chức hội thảo, tọa đàm, hội nghị lấy ý kiến, chưa chú trọng ứng dụng các công cụ, hình thức truyền thông hiện đại. Việc giải trình ý kiến ở một số dự thảo VBQPPL còn mang tính hình thức, chưa công khai việc tiếp thu, giải trình ý kiến góp ý nhận được từ hoạt động truyền thông nhiều dự thảo chính sách, nhất là góp ý trái chiều chưa được các cơ quan chủ trì soạn thảo VBQPPL quan tâm, thực hiện. Sự phối hợp, trao đổi, cung cấp thông tin giữa cơ quan chủ trì soạn thảo VBQPPL với các cơ quan thông tin, báo chí có lúc chưa chặt chẽ, do đó, các cơ quan báo chí còn gặp khó khăn trong việc nắm bắt thông tin về dự thảo chính sách. Kinh phí cho truyền thông dự thảo chính sách chưa được nhiều bộ, ngành, địa phương bố trí hoặc còn rất hạn hẹp, chưa có kinh phí riêng cho công tác này nên các bộ, ngành, địa phương phải tự cân đối, bố trí từ kinh phí chi cho hoạt động thường xuyên hoặc hoạt động PBGDPL của cơ quan, đơn vị. Việc huy động các nguồn lực xã hội để tham gia tổ chức các hoạt động truyền thông dự thảo chính sách còn hạn chế, chưa thường xuyên.
3. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác truyền thông chính sách trong xây dựng VBQPPL
Để tiếp tục phát huy những kết quả đạt được, khắc phục các hạn chế, tồn tại, cần thực hiện một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác truyền thông chính sách trong quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật.
Một là, hoàn thiện chính sách, thể chế về công tác truyền thông dự thảo chính sách, trong đó quy định rõ nhiệm vụ truyền thông dự thảo chính sách và trách nhiệm của các bộ, cơ quan, tổ chức ở trung ương, địa phương trong công tác này. Nghiên cứu, xây dựng, hướng dẫn quy trình truyền thông dự thảo chính sách để thống nhất triển khai trên cả nước.
Hai là, tiếp tục quán triệt, truyền thông, nâng cao nhận thức và trách nhiệm của cơ quan chủ trì soạn thảo VBQPPL về vị trí, tầm quan trọng của công tác truyền thông dự thảo chính sách pháp luật. Phát huy vai trò của Hội đồng phối hợp PBGDPL các cấp và từng thành viên Hội đồng trong chỉ đạo, hướng dẫn và tổ chức truyền thông dự thảo chính sách pháp luật liên quan đến ngành, lĩnh vực mình.
Ba là, xây dựng cơ chế phối hợp, cung cấp thông tin giữa các cơ quan chủ trì soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật với các cơ quan thông tin, báo chí trong tổ chức truyền thông dự thảo chính sách để bảo đảm chất lượng, hiệu quả. Tăng cường sự tham gia của các cơ quan thông tin, báo chí như Đài Truyền hình, Đài tiếng nói, Thông tấn xã Việt Nam, các Báo ở Trung ương và địa phương trong công tác truyền thông dự thảo chính sách.
Bốn là, đa dạng hóa các hình thức truyền thông dự thảo chính sách phù hợp, hiệu quả, chú trọng xây dựng tài liệu truyền thông ngắn gọn, sinh động, dễ hiểu; tổ chức truyền thông trên phương tiện thông tin, báo chí và mạng xã hội; thông qua các cuộc tiếp xúc cử tri, họp báo hàng tháng, hàng quý của các cơ quan, đơn vị và thông qua các thiết chế văn hóa tại cơ sở... để nắm bắt tâm tư, nguyện vọng, ý kiến góp ý, phản hồi của người dân, doanh nghiệp về quá trình xây dựng, thực thi chính sách pháp luật. Trong quá trình truyền thông cần cung cấp địa chỉ, đầu mối cung cấp nội dung truyền thông và đầu mối phối hợp, tiếp nhận ý kiến góp ý, phản hồi về dự thảo chính sách, dự thảo VBQPPL.
Năm là, chú trọng nâng cao năng lực, chất lượng đội ngũ cán bộ thực hiện công tác dự thảo chính sách và truyền thông chính sách tại các bộ, ngành, địa phương. Cần tổ chức mở rộng bồi dưỡng, tập huấn các kỹ năng cơ bản trong truyền thông dự thảo chính sách cho đội ngũ báo cáo viên pháp luật, công chức pháp chế các bộ, cơ quan, tổ chức ở trung ương, sở, ngành địa phương, tuyên truyền viên pháp luật; đội ngũ phóng viên, biên tập viên, cán bộ quản lý thông tin, báo chí ở trung ương, địa phương.
Sáu là, quan tâm bố trí nguồn lực thực hiện truyền thông dự thảo chính sách, trong đó cần bố trí nguồn kinh phí riêng đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ này. Bên cạnh đó, có giải pháp huy động đội ngũ luật sư, luật gia, nhà khoa học, chuyên gia pháp lý tham gia công tác truyền thông dự thảo chính sách, đồng thời, khuyến khích các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân hỗ trợ nguồn lực để tổ chức các hoạt động truyền thông dự thảo chính sách theo quy định của pháp luật.
Công tác truyền thông chính sách trong quá trình xây dựng VBQPPL có vai trò rất quan trọng, là một trong những chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan của Chính phủ và chính quyền địa phương trong quá trình thực hiện nhiệm vụ chính trị của mình. Công tác này góp phần nâng cao hiệu quả lãnh đạo, quản lý, điều hành, đồng thời bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong xây dựng, ban hành chính sách và pháp luật, giúp các văn bản pháp luật thực sự phản ánh ý chí của nhân dân, xuất phát từ nhu cầu thực tiễn, mang hơi thở cuộc sống, trở thành công cụ hữu hiệu để thực hiện phương châm: “Đảng lãnh đạo, Nhân dân làm chủ, Nhà nước quản lý”, hướng tới một Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của dân, do dân và vì dân. Để đạt được mục tiêu này, Bộ Tư pháp cùng các Bộ, ngành và địa phương cần phối hợp chặt chẽ, đồng bộ, triển khai hiệu quả các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác truyền thông chính sách trong xây dựng pháp luật, đảm bảo tính khả thi, minh bạch và hiệu quả của chính sách và pháp luật.