I. SỰ CẦN THIẾT SỬA ĐỔI LUẬT HÒA GIẢI Ở CƠ SỞ
Ngày 20/6/2013, tại Kỳ họp thứ 5, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XIII đã thông qua Luật Hòa giải ở cơ sở. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2014.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành đã tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, toàn diện, vững chắc cho hoạt động hòa giải ở cơ sở đi vào nền nếp, thống nhất, hiệu quả và tiếp tục khẳng định được vị trí, vai trò quan trọng trong đời sống xã hội. Thực tiễn 12 năm thi hành Luật Hòa giải ở cơ sở cho thấy, ở những địa phương làm tốt công tác hòa giải cơ sở thì tình hình an ninh, trật tự được giữ vững, hàng năm số vụ vi phạm pháp luật hình sự thấp hơn. Thông qua công tác hòa giải ở cơ sở, những tranh chấp, bất đồng phát sinh tại cơ sở đã được giải quyết kịp thời, dứt điểm; không để tranh chấp kéo dài, khó xử lý, hạn chế đáng kể tình trạng khiếu kiện ra cơ quan nhà nước, khiếu kiện vượt cấp; góp phần xây dựng khối đoàn kết cộng đồng bền vững, khẳng định vị trí, vai trò, ý nghĩa nhân văn sâu sắc của công tác hòa giải ở cơ sở trong giữ gìn, vun đắp tình làng, nghĩa xóm, xây dựng cơ sở, khu dân cư ngày càng ấm no, yên bình, hạnh phúc.
Mặc dù đạt được nhiều kết quả tích cực, song, trước sự vận động không ngừng của đời sống kinh tế - xã hội, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã bộc lộ những hạn chế, bất cập, một số quy định không còn phù hợp, chưa đáp ứng được yêu cầu, sự phát triển mới của đất nước như quy định về quyền, nghĩa vụ của đội ngũ hoà giải viên còn chung chung, chưa bao quát đầy đủ; thiếu phạm vi, quyền, nghĩa vụ của người được mời tham gia hòa giải; chưa quy định về yêu cầu Tòa án công nhận kết quả hòa giải thành, do đó, chưa quy định về quyền yêu cầu của các bên và trách nhiệm của Hòa giải viên cũng như Tòa án trong việc công nhận kết quả hòa giải ở cơ sở; thiếu khung pháp lý cho chuyển đổi số và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức trong công tác hòa giải ở cơ sở cần hoàn thiện để thực hiện đúng vai trò, trách nhiệm trong bối cảnh mới…
Đồng thời, trong bối cảnh sắp xếp, hoàn thiện tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị theo Nghị quyết số 203/2025/QH15 ngày 16/6/2025 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Luật Tổ chức chính quyền địa phương số 72/2025/QH15, Luật Hoà giải ở cơ sở bên cạnh sửa đổi, bổ sung các quy định để khắc phục các vấn đề còn tồn tại, hạn chế, khuyết thiếu nêu trên, còn cần sửa đổi cho phù hợp với tổ chức bộ máy nhà nước vận hành mô hình chính quyền địa phương 02 cấp.
Bên cạnh những điểm nghẽn từ thể chế, công tác tổ chức thi hành Luật còn có những điểm còn khó khăn, vướng mắc liên quan tới một số cấp chính quyền cơ sở chưa thực sự quan tâm tới công tác này; kiến thức pháp luật, kỹ năng, phương pháp về hòa giải của các hòa giải viên, chất lượng các vụ việc hòa giải chưa cao; việc thu hút người được mời có trình độ pháp luật, kiến thức xã hội tham gia vào công tác hòa giải chưa thực hiện đáp ứng mục đích, yêu cầu đặt ra; nguồn kinh phí hỗ trợ cho công tác này tại một số địa phương chưa thực hiện được theo quy định…những vấn đề tồn tại, hạn chế từ tổ chức thi hành pháp luật cũng cần được nghiên cứu, có giải pháp khắc quy phạm hóa trong luật hòa giải ở cơ sở sửa đổi.
Đặc biệt, trong bối cảnh Nghị quyết số 27-NQ/TW đã đề ra nhiệm vụ, giải pháp: “Tiếp tục hoàn thiện cơ chế huy động nguồn lực để xã hội hóa và phát triển các lĩnh vực công chứng, hòa giải, trọng tài, thừa phát lại, giám định tư pháp…”; Nghị quyết số 66-NQ/TW tiếp tục khẳng định “…kết hợp các phương thức phi tố tụng tư pháp với các phương thức tố tụng tư pháp...”, “Tập trung xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật, bảo đảm thượng tôn Hiến pháp và pháp luật trở thành chuẩn mực ứng xử của mọi chủ thể trong xã hội”; Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn về công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong 40 năm qua ở Việt Nam trình Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng xác định một trong những định hướng, nhiệm vụ, giải pháp trong giai đoạn mới là “Xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân do Đảng lãnh đạo; bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, thượng tôn Hiến pháp và pháp luật, tôn trọng, bảo đảm và bảo vệ quyền con người, quyền công dân”.
Như vậy, trước yêu cầu bối cảnh tiếp tục phát huy vai trò, vị trí của công tác hòa giải ở cơ sở, “xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật’, “bảo đảm thượng tôn Hiến pháp và pháp luật trở thành chuẩn mực ứng xử của mọi chủ thể trong xã hội” bên cạnh giải quyết các điểm nghẽn về thể chế và tổ chức thi hành pháp luật thì việc sửa đổi toàn diện Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 là hết sức cần thiết.
II. NHỮNG CHÍNH SÁCH CƠ BẢN CỦA LUẬT HÒA GIẢI Ở CƠ SỞ (SỬA ĐỔI)
Để khắc phục những hạn chế, bất cập của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 và tạo hành lang pháp lý thúc đẩy công tác hòa giải ở cơ sở trong xu hướng tăng cường các biện pháp giải quyết tranh chấp ngoài Tòa án, Bộ Tư pháp đã nghiên cứu và đề xuất 05 chính sách cơ bản để xây dựng dự án Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi) như sau:
a) Chính sách 1. Hoàn thiện cơ chế lựa chọn và nâng cao trách nhiệm của đội ngũ hoà giải viên ở cơ sở đáp ứng yêu cầu thực tiễn
Theo đó, dự kiến bổ sung quy định hình thức chỉ định hoà giải viên trong một số trường hợp nhất định nhằm kiện toàn nhân sự, bảo đảm đủ số lượng, chất lượng hòa giải viên và duy trì hoạt động ổn định, liên tục của Tổ hòa giải ở cơ sở. Trên thực tế, nhân sự của Tổ hòa giải ở cơ sở thường xuyên biến động, khi Hòa giải viên có nguyện vọng thôi làm Hòa giải viên dẫn đến tình trạng không đủ số lượng thành viên tối thiểu của một tổ hòa giải hoặc khuyết thiếu hòa giải viên nữ hoặc khuyết thiếu hòa giải viên là người dân tộc thiểu số, đặc biệt cần chỉ định hòa giải viên có kiến thức, kinh nghiệm và kỹ năng hòa giải phù hợp với vụ việc hòa giải. Để thực hiện quy trình bầu hòa giải viên theo quy định của Luật sẽ dẫn đến hệ quả mất nhiều thời gian để tổ chức cuộc bầu trong khi đó yêu cầu hòa giải mâu thuẫn, tranh chấp phát sinh trong cộng đồng dân cư là thường xuyên. Vì vậy, để bảo đảm tính kịp thời, dự kiến Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có thẩm quyền chỉ định hoà giải viên trong trường hợp nhất định.
Đồng thời, các quyền và nghĩa vụ của hòa giải viên sẽ được quy định đầy đủ hơn, toàn diện hơn, bảo đảm nâng cao chất lượng của đội ngũ hòa giải viên từ đó nâng cao hiệu quả hòa giải ở cơ sở
b) Chính sách 2. Xác định rõ địa vị, phạm vi tham gia và quyền, nghĩa vụ của người được mời tham gia hòa giải ở cơ sở
Người được mời tham gia hòa giải ở cơ sở đã được quy định tại Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013, tuy nhiên Luật chưa quy định cụ thể chủ thể mời, quyền và nghĩa vụ của người được mời, địa vị và phạm vi tham gia của người được mời. Vì thế, mặc dù có quy định này trong Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 nhưng thời gian qua việc mời cá nhân có uy tín, kiến thức pháp luật, kiến thức chuyên ngành hoặc kiến thức xã hội… tham gia hòa giải hoặc tư vấn, hướng dẫn cho Hòa giải viên giải quyết vụ việc rất hạn chế, về cơ bản chưa huy động được nguồn lực này hỗ trợ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Do đó, dự kiến bổ sung quy định về địa vị pháp lý, phạm vi tham gia cũng như quyền, nghĩa vụ của người được mời tham gia hoà giải ở sở nhằm khuyến khích, tăng cường trách nhiệm của người được mời tham gia hòa giải ở cơ sở.
c) Chính sách 3. Bảo đảm nâng cao giá trị pháp lý của kết quả hòa giải thành
Chính sách này nhằm tương tích với quy định về thủ tục công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án tại Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, đồng thời nâng cao giá trị của hòa giải thành. Theo đó, bổ sung các bên có quyền của yêu cầu Toà án nhân dân có thẩm quyền công nhận kết quả hoà giải thành và Hòa giải viên có trách nhiệm cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến vụ, việc do mình trực tiếp hòa giải theo đề nghị của Tòa án nhân dân có thẩm quyền; bổ sung trách nhiệm của Tòa án nhân dân tối cao trong chỉ đạo, hướng dẫn hệ thống Tòa án thực hiện thủ tục công nhận kết quả hòa giải thành ở cơ sở…
d) Chính sách 4. Ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác hòa giải ở cơ sở
Ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác hòa giải ở cơ sở là xu thế tất yếu của quá trình vận động và phát triển. Do đó, Bộ Tư pháp đề xuất việc xây dựng và đưa vào vận hành Cơ sở dữ liệu về hòa giải ở cơ sở phục vụ quản lý, khai thác thông tin, số liệu… Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp xã có trách nhiệm cập nhật thông tin, dữ liệu (về hòa giải viên, tổ hòa giải, hoạt động hòa giải…) vào Cơ sở dữ liệu này. Ngoài ra, chính sách này còn đề xuất thực hiện hoạt động hòa giải trên môi trường số (hòa giải trực tuyến bên cạnh hòa giải truyền thống); Văn bản, hồ sơ, tài liệu, thông tin liên quan đến hòa giải ở cơ sở được lập dưới dạng thông điệp dữ liệu, ký số, gửi, nhận, lưu trữ, xử lý và chia sẻ trên môi trường số theo đúng quy định pháp luật về giao dịch điện tử có giá trị pháp lý tương đương với văn bản giấy.
Bên cạnh đó, để giải quyết khó khăn trong thủ tục bầu hòa giải viên, Bộ Tư pháp cũng dự định giao cho Ủy ban nhân dân cấp xã quyết định áp dụng hình thức biểu quyết bầu hòa giải viên có ứng dụng công nghệ thông tin, phù hợp với điều kiện hạ tầng và mức độ sẵn sàng của từng địa phương. Quy định này cũng phù hợp với chủ trương phân cấp và phương châm “địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm”.
e) Chính sách 5. Xác định rõ và nâng cao trách nhiệm của cơ quan, tổ chức trong công tác hòa giải ở cơ sở
Để tăng cường trách nhiệm của các cơ quan đối với công tác hòa giải ở cơ sở, đặc biệt là Tòa án nhân dân trong việc chỉ đạo, hướng dẫn Tòa án nhân dân các cấp thực hiện thủ tục công nhận kết quả hòa giải thành ở cơ sở. Đồng thời, để nâng cao chất lượng đội ngũ hòa giải viên ở cơ sở, từ đó nâng cao hiệu quả hòa giải ở cơ sở sẽ trực tiếp góp phần giảm số lượng vụ, việc khởi kiện ra Tòa án, thì việc huy động đội ngũ thẩm phán, cán bộ Tòa án tham gia tập huấn, bồi dưỡng kiến thức pháp luật, kỹ năng hòa giải cho đội ngũ hòa giải viên ở cơ sở là cần thiết.
Trong nhóm chính sách về xác định rõ trách nhiệm của cơ quan, tổ chức trong công tác hoà giải ở cơ sở, Bộ Tư pháp cũng đề xuất xác định lại trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp xã đối với công tác hòa giải ở cơ sở (không không còn Ủy ban nhân dân cấp huyện như tại Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013).
Theo kế hoạch, dự thảo Hồ sơ chính sách Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi) sẽ trình Chính phủ tháng 4/2026. Trong thời gian tới, Bộ Tư pháp sẽ tiếp tục chỉnh lý, hoàn thiện các chính sách của dự án Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi). Trên cơ sở ý kiến của thành viên Chính phủ, Bộ Tư pháp sẽ hoàn thiện các chính sách và tiến hành soạn thảo dự thảo Luật Hòa giải ở cơ sở bảo đảm trình Quốc hội khóa XVI tại Kỳ họp thứ hai.
CỤC PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT VÀ TRỢ GIÚP PHÁP LÝ