Sáng 11/2, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Đặng Hoàng Oanh đã chủ trì Hội đồng thẩm định Hồ sơ chính sách dự án Luật Phòng, chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt.
Báo cáo tại buổi thẩm định, Phó Cục trưởng Cục pháp chế Bộ Quốc phòng Bùi Hoàng Anh cho biết, vũ khí hủy diệt hàng loạt (WMD) là các loại vũ khí đặc biệt nguy hiểm (sinh học, hóa học, hạt nhân, phóng xạ), có nguy cơ bị lợi dụng nếu không kiểm soát chặt chẽ. Việt Nam đã tham gia nhiều điều ước quốc tế, ban hành Nghị định số 81/2019/NĐ-CP và các luật liên quan để phòng, chống phổ biến WMD, đạt kết quả tích cực nhưng còn nhiều hạn chế về nhận thức, quy định pháp luật, chế tài, phối hợp và nguồn lực. Do đó, cần xây dựng Luật Phòng, chống phổ biến WMD để hoàn thiện khung pháp lý, bảo đảm đồng bộ và hiệu quả thực thi.
Theo đại diện Bộ Quốc phòng, 03 nhóm chính sách lớn được xác định nhằm xây dựng và hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về phòng, chống phổ biến WMD, đáp ứng yêu cầu bảo đảm quốc phòng, an ninh quốc gia và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ quốc tế của Việt Nam.
Thứ trưởng Đặng Hoàng Oanh phát biểu kết luận.
Chính sách 1: thiết lập các nguyên tắc và quy định pháp lý nền tảng ở cấp luật về phòng, chống phổ biến WMD. Mục tiêu là khắc phục tình trạng các quy định hiện hành còn phân tán, chủ yếu nằm ở văn bản dưới luật, hiệu lực pháp lý chưa tương xứng với tính chất đặc thù, nguy hiểm của lĩnh vực này. Việc luật hóa nhằm hình thành một khung pháp lý thống nhất, ổn định, xác định rõ phạm vi điều chỉnh, nội hàm pháp lý, các hành vi bị cấm, trách nhiệm và thẩm quyền của cơ quan nhà nước, đồng thời bảo đảm nội luật hóa đầy đủ các điều ước quốc tế và nghị quyết của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc.
Qua đánh giá các phương án, Bộ Quốc phòng cho biết, giải pháp luật hóa đầy đủ, toàn diện các nguyên tắc và quy định nền tảng được lựa chọn là tối ưu, khắc phục căn bản các bất cập mang tính hệ thống, nâng cao hiệu lực thực thi và tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho quản lý nhà nước trong lĩnh vực phòng, chống phổ biến WMD.
Chính sách 2 quy định về quản lý, kiểm soát các hoạt động có nguy cơ dẫn đến phổ biến WMD theo phương thức quản lý rủi ro. Chính sách này nhằm thay thế mô hình điều chỉnh phân tán hiện nay bằng một cơ chế thống nhất, bao quát các hoạt động liên ngành, lưỡng dụng, xuyên biên giới, gắn với thương mại, tài chính, chuỗi cung ứng và chuyển giao công nghệ. Trọng tâm là kiểm soát các tác nhân hóa học, sinh học, phóng xạ, hạt nhân; kiểm soát biên giới, hàng hóa lưỡng dụng; phòng, chống tài trợ phổ biến WMD.
Bộ Quốc phòng đánh giá Giải pháp luật hóa cơ chế quản lý theo rủi ro là phù hợp và cần thiết, cho phép phân bổ nguồn lực quản lý hiệu quả, tăng cường phòng ngừa từ sớm, từ xa, đồng thời bảo đảm tương thích với các chuẩn mực và cam kết quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
Chính sách 3 tập trung thiết lập cơ chế tổ chức thực hiện, phối hợp liên ngành và hợp tác quốc tế trong phòng, chống phổ biến WMD. Mục tiêu là xác định rõ cơ quan chủ trì, cơ chế điều phối, trách nhiệm phối hợp, chế độ thông tin, báo cáo và trách nhiệm giải trình, qua đó khắc phục tình trạng phối hợp mang tính hành chính, thiếu ràng buộc pháp lý hiện nay.
Bộ Quốc phòng lựa chọn việc luật hóa cơ chế phân công, phân cấp và điều phối liên ngành là giải pháp tối ưu, nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả thi hành pháp luật, bảo đảm thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ hợp tác quốc tế, đồng thời tạo nền tảng pháp lý cho cải cách hành chính, chuyển đổi số và nâng cao năng lực quốc gia trong phòng, chống phổ biến WMD.
Phó Cục trưởng Cục pháp chế Bộ Quốc phòng Bùi Hoàng Anh báo cáo tại buổi thẩm định.
Phát biểu kết luận, Thứ trưởng Đặng Hoàng Oanh thống nhất về sự cần thiết xây dựng Luật Phòng, chống phổ biến WMD nhằm hoàn thiện khung pháp lý trong nước, bảo đảm phù hợp với các điều ước, công ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, đồng thời nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước và tạo thuận lợi cho hợp tác quốc tế.
Thứ trưởng yêu cầu cơ quan soạn thảo chỉnh lý, hoàn thiện nội dung các thành phần Hồ sơ như báo cáo đánh giá tác động, báo cáo rà soát Hồ sơ chính sách Luật, nhằm cụ thể hóa chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và các cam kết quốc tế; trong đó, chỉ rõ những hạn chế, chồng chéo, mâu thuẫn hoặc khoảng trống pháp lý để làm cơ sở đánh giá sự cần thiết ban hành Luật, đồng thời tiếp tục rà soát tính tương thích với các điều ước quốc tế liên quan.
Đối với ba nhóm chính sách cơ quan soạn thảo đề xuất, Thứ trưởng nhận định nội dung cả ba chính sách còn chung chung, cần cụ thể hơn và làm rõ tính đặc thù của lĩnh vực này. Việc xây dựng chính sách phải đánh giá kỹ tác động đối với các dự án như năng lượng hạt nhân; đối với hoạt động của doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp nhà nước; các thủ tục hành chính phát sinh; bảo đảm không tạo rào cản đối với chủ trương phát triển kinh tế, đồng thời giữ vững yêu cầu về an ninh, an toàn, an ninh năng lượng quốc gia và môi trường đầu tư minh bạch…
Bên cạnh đó, cần rà soát kỹ phạm vi điều chỉnh để tránh trùng lặp, xung đột với quy định hiện hành; bổ sung rõ trách nhiệm của các Bộ, ngành liên quan; làm rõ nguồn lực tài chính và nhân lực chất lượng cao để tổ chức thực hiện.
Về thủ tục hành chính, Thứ trưởng đề nghị tiếp cận theo hướng phòng ngừa rủi ro, phân định rõ thẩm quyền giữa Trung ương và địa phương. Đồng thời, cần bổ sung giải pháp ứng dụng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, đặc biệt là số hóa thủ tục hành chính trong công tác quản lý, kiểm soát rủi ro.
H.G